4 thực phẩm “trắng” mà bệnh nhân tiểu đường cần phải bỏ ngay

Đó là 4 loại thực phẩm quen thuộc mà ai ai cũng dùng mỗi ngày, và cũng chính là những tên “khủng bố” đối với sức khỏe con người nếu sử dụng chúng một cách không kiểm soát.

Đường tinh luyện

Carbohydrate là nguồn năng lượng quan trọng nhất được tìm thấy trong hầu hết các loại thực phẩm chúng ta ăn vào. Carbihydrate bao gồm đường đơn Glucose, Fructose…, đường đôi Saccharose và đường đa như tinh bột,…

người tiểu đường nên kiêng đường tinh luyện

Đường tinh luyện ở đây chính là đường trắng là một disacarit (glucose + fructose) có công thức phân tử C12H22O11. Loại đường này cũng có trong các loại thực phẩm tự nhiên như mía, củ cải… Sau khi được tinh chế loại đường này được dùng để chế biến các loại nước ngọt, bánh kẹo…

Cơ thể chúng ta hấp thụ đường vào máu từ các loại thực phẩm ăn vào là khác nhau. Đường trắng trong nước ngọt, bánh kẹo sẽ bắn thẳng vào trong máu, đường trong sữa sẽ đi từng dòng vào trong máu, đường từ tinh bột sẽ chảy từ từ vào trong máu, đường trong trái cây sẽ vào máu theo kiểu nhỏ giọt và đường trong rau củ sẽ thẩm thấu từ từ vào máu. Như vậy, đường vào máu càng chậm, càng tốt, bởi hậu quả của việc tăng đường huyết sẽ dẫn đến nhiều vấn để về sức khỏe, gây ra và làm trầm trọng hơn bệnh tiểu đường và biến chứng của bệnh tiểu đường. Để tiêu hóa được đường tinh luyện cơ thể phải tốn nhiều Calci, Natri, Kali, Magie, Crom lấy từ các bộ phận khác nhau trong cơ thể. Và hậu quả là cơ thể sẽ bị thiếu hụt những vi chất thiết yếu đó.

Dưới đây là một số tác hại của đường tinh luyện:

- Đường gây tăng Glucose trong máu, suy nhược và mệt mỏi.

- Đường làm tăng nguy cơ béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch và ung thư.

- Đường làm suy giảm hệ miễn dịch.

- Đường đẩy nhanh quá trình lão hoá.

- Đường gây sâu răng, làm xấu da.

- Đường ngăn cản hấp thu các chất dinh dưỡng quan trọng.

- Đường gây stress.

Đường rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của con người nhưng đó là đường ở dạng tự nhiên chứa trong rau củ, trái cây chứ không phải là đường tinh luyện.

Muối

Cơ thể chúng ta chỉ cần một lượng nhỏ muối là có thể duy trì một sức khỏe tốt, rất hữu ích cho tế bào thần kinh. Muối ở dạng tự nhiên có chứa trong các loại rau củ như: Hành tây, Khoai tây, Cà chua… là đủ để giúp chúng ta khỏe mạnh.

Trong muối ăn NaCl là hợp chất vô cơ có liên kết ion bền vững khác muối trong rau củ, cho nên cơ thể dễ dàng sử dụng các muối hữu cơ có liên kết cộng hóa trị này.

Việc sử dụng quá nhiều muối sẽ dẫn đến tăng áp lực thẩm thấu trong máu, tăng gánh nặng cho tim và thận, dẫn đến hàng loạt bệnh về huyết áp, tim mạch, thận, xương khớp, ung thư… Đối với bệnh nhân tiểu đường, việc hạn chế muối ăn càng cần thiết hơn bởi những nguy cơ mắc những bệnh trên càng tăng cao hơn.

Lượng muối thích hợp đưa vào trên bệnh nhân tiểu đường thường dưới 5g/ngày, tốt nhất nên sử dụng muối tự nhiên chứa trong rau củ và trái cây. Tránh xa các loại thực phẩm chế biến sẵn như Pizza, thịt hộp, cá muối, snack,… vì chúng chứa rất nhiều muối và các chất phụ gia độc hại khác.

Ngũ cốc tinh chế

Bột mì trắng và gạo trắng là hai loại ngũ cốc tinh chế được dùng phổ biến nhất hiện nay. Đối với lúa mì và lúa gạo thì phần dinh dưỡng chứa nhiều Enzyme, Acid amin, Vitamin, chất xơ nhất lại nằm ở lớp vỏ cám bên ngoài và mầm của nó. Thế nhưng ngũ cốc tinh chế lại được chà sát hết lớp vỏ nâu ấy để tăng vị ngon và tăng thời gian sử dụng. Đặc biệt khi dùng các món ăn được chế biến từ bột mì và gạo trắng làm cơ thể chúng ta bị thiếu hụt Vitamin nhóm B (đó là những loại Vitamin cần thiết cho việc tiêu hóa và chuyển hóa các chất đường bột), chúng ta phải huy động nguồn Vitamin B lấy ra từ các bộ phận khác trong cơ thể và dẫn đến hàng loạt rối loạn như: Kích thích thần kinh, rối loạn tiêu hóa, mỏi cơ, thiếu máu, giảm thị lực, rối loạn nhịp tim, tăng đường huyết…

người tiểu đường nên kiêng ngũ cốc tinh chế

Thay vì sử dụng ngũ cốc tinh chế làm nguồn lương thực chính hãy sử dụng ngũ cốc thô, nguyên cám như: Yến mạch, Gạo lứt… với hàm lượng Vitamin, Amino acid, Enzyme, chất xơ cao sẽ giúp cho bệnh nhân dễ dàng hấp thu chống béo phì và ngăn chặn các bệnh nguy hiểm như tiểu đường, ung thư, tim mạch…

Vấn để đối với bệnh nhân tiểu đường không phải là lượng Carbohydrate đưa vào mà là nguồn Carbohydrate được lấy từ đâu. Những loại ngũ cốc nguyên cám, trái cây, rau củ là nguồn Carbohydrate có ích cho bệnh nhân tiểu đường.

Sữa

Sữa là sản phẩm tự nhiên mà tạo hóa ban tặng cho động vật có vú để nuôi con. Tuy nhiên nó chỉ thật sự tốt cho chính loài đó và trong giai đoạn đầu đời khi trẻ chưa có khả năng hấp thụ các chất khác. Việc con người uống sữa của loài động vật khác là một hình thức phá vỡ quy luật tự nhiên bởi loài người không có những Enzyme tiêu hóa sữa các các loài khác.

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã tìm ra mối liên quan giữa sữa bò và bệnh đái tháo đường type 1. Hệ miễn dịch của con người đã nhận lầm Protein trong sữa bò (Casein) với các tế bào β của cơ thể, và sẽ tấn công các tế bào đó và gây ra bệnh tự miễn và đái tháo đường Type 1. Ngoài ra, sữa nguyên kem còn chứa lượng lớn chất béo, chúng sẽ gây ra béo phì và hàng loạt rối loạn chuyển hóa khác.

Tiến sĩ – Lương Y: Phùng Tuấn Giang (Thọ Xuân Đường)

(Chủ tịch Tổ chức Quốc tế chữa bệnh bằng liệu pháp thiên nhiên tại Việt Nam.)

Ê buốt răng khi ăn đồ ngọt, vì sao?

Nguyễn Thanh Hương (Nam Định)

Ăn đồ ngọt bị buốt răng là biểu hiện của nhiều bệnh lý răng miệng khác nhau. Có thể kể đến những nguyên nhân sau: do sâu răng, do răng bị sứt mẻ, mòn men răng, mắc bệnh viêm nướu. Khi viêm nướu, biểu hiện dễ dàng nhận biết là nướu răng bị sưng đỏ lên. Bởi do cao răng bám lâu ngày không được loại bỏ sẽ tạo cơ hội cho viêm nướu phát triển gây đau nhức cả răng và nướu. Nếu răng bạn bị sứt mẻ do bị lực tác động mạnh hay mòn men thì lúc này răng sẽ cực kỳ nhạy cảm. Mỗi khi kích thích nóng, lạnh, chua, cay, mặn, ngọt thì chắc chắn sẽ dẫn đến cảm giác ê buốt răng. Sâu răng ban đầu chưa có biểu hiện rõ ràng, nhưng khi đồ ăn ngọt bám vào, kích thích sẽ khiến răng đau nhức. Bạn cũng không nên chủ quan nghĩ rằng đánh răng, súc miệng thường xuyên là đảm bảo răng không có vấn đề gì về răng. Nếu bạn thường xuyên đánh răng sai cách hoặc không đi kiểm tra, lấy cao răng định kỳ, bạn vẫn có thể bị sâu răng, viêm nướu, mòn men răng. Qua mô tả của bạn, nhiều khả năng bạn bị tổn thương men răng, ngà răng hoặc sâu răng nhẹ. Để xác định được chính xác nguyên nhân buốt răng khi ăn đồ ngọt, tốt nhất bạn nên đến bệnh viện, phòng khám răng để được thăm khám và điều trị sớm.

BS. Lê Thục

Sau mưa lũ phòng tiêu chảy cấp do Rotavirus

Đặc trưng của bệnh tiêu chảy cấp do rotavirut là trẻ bị tiêu chảy và nôn mửa nhiều lần, trẻ dễ bị mất nước, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được bù nước kịp thời. Vì vậy, việc nhận biết và phòng ngừa bệnh là vô cùng quan trọng.

Bệnh gây tiêu chảy và nôn mửa nhiều lần, mất nước, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Do đó người dân cần phải chú ý thực hiện các biện pháp phòng bệnh, nhất là đối với trẻ nhỏ, đối tượng dễ mắc và dễ diễn biến nặng hơn người lớn. Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ từ 3 tháng đến 24 tháng.

Virus Rota dễ lây và tồn tại dai dẳng

Tiêu chảy cấp do virus Rota có khả năng lây lan dữ dội, với đường truyền phổ biến là phân – miệng. Khi trẻ cầm nắm đồ chơi hoặc chạm tay vào các bề mặt có virus rồi đưa tay lên miệng, virus sẽ dễ dàng xâm nhập vào đường tiêu hóa của trẻ và gây bệnh. Virus gây bệnh này có thể sống nhiều giờ trên bàn tay, vài ngày trên các bề mặt rắn và tồn tại đến 21 ngày trong phân.Virus Rota gần như không thể bị tiêu diệt bởi các biện pháp vệ sinh thông thường như xà phòng mà chỉ bị tiệt trừ bởi các dung dịch diệt khuẩn có chứa cồn.

Có nhiều loại rotavirus, vì thế có thể bị lây nhiễm nhiều hơn một lần. Tuy nhiên, những trẻ đã được uống vacxin vẫn có thể mắc nhưng mức độ nhẹ hơn.

Dấu hiệu nhận biết

Thời gian ủ bệnh trung bình từ 2 – 3 ngày. Sau khi nhiễm rota virus khoảng 1 – 2 ngày trẻ có thể xuất hiện các triệu chứng nôn nhiều và tiêu chảy. Thông thường nôn xuất hiện trước tiêu chảy, kéo dài từ khoảng 6 – 7 giờ đến 2 – 3 ngày, nôn giảm khi bắt đầu xuất hiện tiêu chảy. Phân nhiều nước, có thể có nhầy, nhớt nhưng không có máu, tiêu chảy ngày càng tăng sau đó giảm dần sau 3 – 9 ngày. Ngoài ra, bệnh nhân còn có sốt thường sốt không cao quá, đau bụng quặn từng cơn. Vì trẻ vừa nôn và vừa tiêu chảy nhiều lần trong ngày nên cơ thể tdễ bị mất nước và phải nhập viện để điều trị.Nếu không điều trị kịp thời trẻ có thể xuất hiện tình trạng mệt mỏi, li bì, ăn kém, hôn mê, thậm chí tử vong.

Rửa tay là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu

Cần làm gì khi trẻ tiêu chảy do Rota Virus?

Điều trị tiêu chảy cấp do rota virus bằng kháng sinh không hiệu quả. Ở thể nhẹ không có triệu chứng có thể tự khỏi sau 3 – 4 ngày. Việc điều trị chủ yếu là phòng biến chứng: bù nước và điện giải khi trẻ bị mất nước. Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường, có thể dùng nước đun sôi để nguội, nước canh rau, nước khoáng hoặc cho trẻ uống oresol theo hướng dẫn, với trẻ nhỏ uống Oresol từng thìa nhỏ, 1-2 phút/thìa, bù nước 50ml Oresol sau mỗi lần đi ngoài. Trong quá trình điều trị bệnh vẫn phải cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng như bình thường, phù hợp với lứa tuổi, tiếp tục cho trẻ bú mẹ nếu trẻ còn đang bú. Nếu trẻ không thể bù nước bằng đường uống và có biểu hiện mất nước, cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất.

Chú ý, cần cho trẻ ăn uống thức ăn lỏng, mềm, dễ tiêu hóa, cho trẻ ăn từng thìa nhỏ, nếu trẻ bị nôn ói, cho trẻ nghỉ một chút rồi đút lại, chậm hơn.

Tuyệt đối, không dùng thuốc cầm tiêu chảy cho trẻ vì thuốc này làm giảm nhu động ruột làm liệt ruột khiến phân không thải được ra ngoài chứ không có tác dụng diệt virus– nguyên nhân gây tiêu chảy ứ đọng lâu hơn, lâu ngày có thể dẫn đến chướng bụng, tắc ruột, tử vong…

Để phòng bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus cần phòng bệnh chủ động bằng vacxin

Lời khuyên thầy thuốc

Tiêu chảy cấp do Rotavirus lây lan rất nhanh, do đó nếu trẻ bị bệnh nên cho trẻ nghỉ học cho đến khi hết tiêu chảy để tránh lây lan cho các trẻ khác.

Các biện pháp phòng chống dịch tiêu chảy cấp do rota virus: Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe: vệ sinh nguồn nước, ăn uống theo các quy định của vệ sinh an toàn thực phẩm như không ăn các loại thịt sống hoặc chưa nấu chín, rửa sạch rau quả trước khi ăn sống, giáo dục thói quen vệ sinh ăn uống, rửa tay trước khi ăn.

Sau mưa lũ cần lau rửa sàn nhà và các vật dụng, bàn ghế, đồ chơi bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin B, lau rửa sàn toa-lét, bồn cầu sau khi trẻ tiêu chảy đi vệ sinh.

Ngoài ra, cần phòng bệnh chủ động bằng vacxin cho trẻ từ 2 tháng tuổi.

BS Xuân Hoàng

Xuất hiện phương pháp hiệu quả nhất chữa thoái hóa khớp gối

Thoái hóa khớp gối là gì?

Theo các bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp của Bệnh viện Đa khoa An Việt, thoái hóa khớp gối là tình trạng mất cân bằng sinh học và cơ học, từ đó dẫn đến những tổn thương nơi sụn khớp gối và xương dưới sụn. Khi đó, xuất hiện các phản ứng sưng, viêm, giảm thiểu dịch khớp gối. Sụn khớp gối đóng vai trò như lớp đệm che chắn, bảo vệ, giúp giảm chấn động và tránh sự cọ xát giữa hai đầu xương khi khớp cử động.

Khi xảy ra tình trạng thoái hóa khớp gối, sụn khớp bị hao mòn dẫn tới việc không thể che phủ toàn bộ đầu xương dẫn đến tình trạng cọ sát xương đùi và xương chày gây đau đớn cho bệnh nhân.

Những nguyên nhân gây thoái hóa khớp gối

Do chấn thương: Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Các chấn thương như rách dây chằng trước, tổn thương sụn, viêm bao hoạt dịch, viêm gân bánh chè, đau hông hay đau chân có thể dẫn đến thoái hóa khớp gối.

Một số bệnh khớp khác như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp... cũng là nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp.

Những dấu hiệu, triệu chứng của thoái hóa khớp

Bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp của Bệnh viện Đa khoa An Việt cho biết một số triệu chứng của thoái hóa khớp có thể kể đến như:

Đau nhẹ khớp gối thường xuyên, cơn đau tăng dần khi vận động, di chuyển, đau chủ yếu về ban đêm. Khi co duỗi chân nghe có tiếng kêu lục khục, lạo xạo ở đầu gối.

Xuất hiện hiện tượng cứng khớp vào buổi sáng sau khi ngủ dậy. Việc cử động gần như là không thể, phải mất khoảng 10 – 30 phút sau đó mới cảm thấy dễ chịu và di chuyển được.

Khó vận động, đi lại do khớp gối bị cứng và đau. Người bệnh cảm thấy nhấc chân khó, đi tệp tễnh, ngồi xuống đứng lên cũng khó khăn. Việc đứng lên ngồi xuống, lên xuống cầu thang cũng bị đau.Khớp gối bị sưng lên do bị tràn dịch khớp. Tình trạng này sẽ được cải thiện nếu thực hiện chọc hút dịch sẽ làm giảm đau và sưng đầu gối.

Khớp gối bị biến dạng, teo ổ khớp. Đây là biểu hiện khi bệnh thoái hóa khớp gối đã phát triển nặng và sụn bị tổn thương nghiêm trọng. Người bệnh có thể bị lệch đầu gối, rất khó gập hoặc duỗi gối ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng vận động.

Điều trị thoái hóa khớp gối có khó không?

Điều trị thoái hóa khớp gối không phải điều đơn giản. Những phương pháp điều trị cũ thường không có hiệu quả cao và lâu dài. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa An Việt đang áp dụng những phương pháp tiên tiến nhất theo công nghệ Hàn Quốc để điều trị thoái hóa khớp gối là tiêm tế bào gốc và tiêm huyết tương giàu tiểu cầu.

Điều trị thoái hóa khớp gối bằng tiêm tế bào gốc


Tế bào gốc dùng để tiêm trực tiếp vào khớp được thu thập từ chính cơ thể bệnh nhân, loại phổ biến là tế bào gốc trung mô.

Nghĩa là, tế bào gốc lấy từ mô mỡ, máu, tủy xương của bệnh nhân.

-Tế bào gốc mỡ: Phẫu thuật hoặc hút mỡ ở phần bụng

-Tế bào gốc máu ngoại vi: Lấy một mẫu máu từ bệnh nhân sau đó tiến hành tách chiết để thu được loại tế bào gốc này.

-Tế bào gốc tủy xương: Thường được lấy ở tủy xương của vùng xương chậu.

Cách lấy bằng kim hoặc ống tiêm.

Nghiên cứu còn chỉ ra rằng, việc chiết xuất tế bào gốc còn được lấy từ các bộ phận khác như da, cơ vân. Thường các ca thực hiện sẽ lấy phần mô mỡ và tủy xương vì dễ thực hiện lại ít gây ra tổn thương cho bệnh nhân.

Bệnh viện An Việt điều trị thoái hóa khớp bằng phương pháp tiêm nội khớp tế bào gốc tuân thủ đúng quy trình vô trùng tuyệt đối, bác sĩ thực hiện có kinh nghiệm cao để xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện, kết hợp ăn ý với các bộ phận khác trong ê kip phẫu thuật, đem lại hiệu quả điều trị chữa thoái hóa khớp cho nhiều bệnh nhân.

Quá trình điều trị thoái hóa khớp bằng phương pháp tiêm nội khớp tế bào gốc không chỉ giúp bệnh nhân nhanh chóng khắc phục bệnh mà còn duy trì sức khỏe khớp lâu dài cho bệnh nhân.

Điều trị thoái hóa khớp bằng tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP)

Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân là huyết tương sau khi tách chiết từ một lượng máu của chính bệnh nhân có nồng độ tiểu cầu cao gấp nhiều lần so với trong máu bình thường.

Trong chuyên ngành cơ xương khớp, liệu pháp PRP tự thân được sử dụng để điều trị bệnh thoái hóa khớp gối, chấn thương thể thao, viêm gân và các điểm bám tận, kích thích sự lành vết thương phần mềm cũng như làm nhanh liền xương sau phẫu thuật.

Một số nghiên cứu trong vài năm trở lại đây đã chứng tỏ PRP tự thân tiêm trực tiếp vào trong khớp là một liệu pháp có triển vọng trong điều trị thoái hóa khớp gối với cơ chế là PRP chứa chất chống viêm và các yếu tố tăng trưởng thúc đẩy sự tăng sinh của sụn khớp.

Tóm lại, với tác động vào cơ chế bệnh sinh của bệnh thoái hóa khớp, kỹ thuật tách chiết PRP đơn giản, an toàn do lấy máu tự thân, liệu pháp điều trị PRP đang hứa hẹn là một trong những lựa chọn điều trị tốt cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Nó cho kết quả tốt hơn và lâu dài hơn với điều trị bằng tiêm tại chỗ chất nhờn acid hyalorunic, một liệu pháp điều trị được coi là tiêu chuẩn và đang được sử dụng rộng rãi hiện nay.

Mọi vấn đề cần tư vấn bạn có thể gọi tới 1900 2838 để được tư vấn, đặt lịch khám hoàn toàn miễn phí.

Bệnh viện đa khoa An Việt

Địa chỉ: 1E Trường Chinh, Hà Nội

Hotline: 1900 2838

Website: http://benhvienanviet.com/

Điều trị phẫu thuật bệnh Basedow

Như vậy, về thực chất, điều trị phẫu thuật bệnh Basedow là điều trị triệu chứng. Tuy nhiên, để thực hiện điều này một cách an toàn và ít biến chứng lại là một vấn đề hết sức phức tạp.

Vai trò của điều trị ngoại khoa và chỉ định

Việc điều trị bệnh Basedow bằng phẫu thuật hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng. Càng ngày người ta càng hiểu rõ vai trò, những giới hạn, kết quả của việc điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp và iode đồng vị phóng xạ. Ở Pháp, các bác sĩ chỉ định phẫu thuật cho các trường hợp bệnh nhân sau: trẻ tuổi dưới 40 tuổi, bệnh nhân không thể theo đuổi điều trị nội khoa lâu dài, tốn kém, bệnh nhân vì lý do thẩm mỹ, không dung nạp với thuốc kháng giáp tổng hợp.

Điều trị phẫu thuật bệnh BasedowCác bướu cổ to trọng lượng từ 100 - 400g dù không có triệu chứng chèn ép cũng nên phẫu thuật cho bệnh nhân

Trong một nghiên cứu của chúng tôi có tất cả 26 bệnh nhân được chỉ định mổ vì bướu cổ khá lớn, độ III theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, chiếm 16,1%. Trong đó có 15 bệnh nhân có biểu hiện chèn ép vào một số cơ quan lân cận, trong đó chủ yếu là chèn ép khí quản gây khó thở khi nằm, vào thực quản gây khó nuốt… Các tác giả khác đều đề nghị rằng với các bướu cổ to trọng lượng từ 100 - 400g, dù không có triệu chứng chèn ép cũng nên phẫu thuật cho bệnh nhân. Ở những bệnh nhân này, hội chứng cường giáp đã được điều trị ổn định, nhưng nguyên nhân chính khiến bệnh nhân đến khám bệnh là bướu cổ lớn vẫn còn, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý và giao tiếp xã hội của bệnh nhân.

Ở Mỹ và Canada, khuynh hướng điều trị phổ biến cho bệnh Basedow là dùng iode đồng vị phóng xạ, trong khi các nước châu u lại có khuynh hướng điều trị nội khoa với kháng giáp tổng hợp. Đối với Việt Nam, do hoàn cảnh kinh tế-xã hội nên bệnh nhân khó có thể theo đuổi một phương pháp điều trị nội khoa lâu dài đúng theo phác đồ, việc xây dựng các trung tâm điều trị bằng iode đồng vị phóng xạ còn gặp nhiều khó khăn về phương diện tài chính, điều trị bảo tồn chỉ cho kết quả tốt đối với những trường hợp bệnh mới phát triển. Tỉ lệ tái phát hoặc không khỏi bệnh vẫn còn tương đối cao.

Do đó không nên cố gắng điều trị bảo tồn trong các trường hợp điều trị bằng thuốc không có hiệu quả với những trường hợp này phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị thích hợp và hiệu quả nhất.

Thời gian điều trị nội khoa nên từ 3 - 6 tháng, sau thời gian này nếu bệnh không ổn định hoặc có nguy cơ không khỏi thì vấn đề chỉ định phẫu thuật đặt ra là rất hợp lý. Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, điều trị nội khoa quá kéo dài sẽ có nhiều khó khăn cho người bệnh và cơ sở điều trị, chỉ có một số nhỏ có điều kiện điều trị liên tục từ 1 - 1,5 năm một cách có hệ thống. Các công trình nghiên cứu đều cho thấy là sau một đợt điều trị nội khoa tấn công từ 2 - 3 tháng, nếu các triệu chứng không ổn định thì việc điều trị tiếp tục cũng chỉ khỏi bệnh 50%.

Điều trị phẫu thuật bệnh Basedow

Nhóm những bệnh nhân có khả năng khó khỏi với điều trị nội khoa: những bệnh nhân có biểu hiện cường giáp nặng, phải dùng liều lượng lớn thuốc kháng giáp tổng hợp trên 400mg P.T.U mỗi ngày, bệnh nhân trẻ dưới 20 tuổi, tuyến giáp không nhỏ lại rõ ràng sau thời gian điều trị nội khoa, hàm lượng T3 quá cao, tỉ lệ T3/T4 cao và số lượng tế bào lympho lưu thông trong máu trên 300 tế bào trong một ml. Khi nghiên cứu về kháng thể kháng thyroglobulin và kháng microsome trong bệnh Basedow, một số tác giả thấy: trước khi điều trị, sự hiện diện hay không của tự kháng thể kháng tuyến giáp không cho phép tiên đoán về diễn biến lâm sàng của bệnh, tuy nhiên trên những bệnh nhân có tự kháng thể kháng tuyến giáp trong huyết thanh lúc đầu, nếu sau điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp các tự kháng thể này biến mất thì có thể tiên đoán sự ổn định trên lâm sàng và cận lâm sàng sẽ rõ rệt và đầy đủ. Sự hiện diện kéo dài của tự kháng thể kháng Microsome trong máu sau khi điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp có liên hệ đến diễn tiến không tốt trên lâm sàng.

Phần lớn các bệnh nhân của chúng tôi chiếm tỉ lệ 51,3%, đều được mổ để tránh tái phát. Tuy điều trị nội khoa đã đạt kết quả tốt cho bệnh nhân, nhưng cũng nên điều trị ngoại khoa tiếp tục nhằm tránh nguy cơ tái phát, nếu bệnh nhân đã tái phát đến lần thứ hai thì nên điều trị bằng phẫu thuật.

Điều trị bằng phẫu thuật vẫn là một phương pháp cơ bản, chắc chắn, có hiệu quả và ít để lại di chứng nhất.

Theo tác giả nội khoa - nội tiết thì kết quả điều trị nội khoa chỉ đạt từ 60 - 70%. Có 30 - 40% bị tái phát sau khi ngưng điều trị vài tháng. Nguyên nhân thường do thời gian điều trị quá ngắn hoặc không liên tục. Trong điều trị nội khoa những yếu tố cho phép dự đoán tiến triển tốt:

- Khối lượng tuyến giáp nhỏ đi.

- Liều thuốc kháng giáp tổng hợp duy trì cần thiết chỉ còn rất nhỏ: dưới 50mg Thiouracil, hoặc dưới 5mg Imidazole.

- Nghiệm pháp Werner âm tính trở lại.

- Trong huyết thanh không còn TSI.

- Ngoài ra người ta còn cho rằng việc định lượng T3 và T4 tự do theo phương pháp RIA là những xét nghiệm có giá trị nhất trong quá trình theo dõi điều trị.

Khi tiến hành mổ, cần phải chú ý: chỉ nên phẫu thuật cho những bệnh nhân Basedow trong giai đoạn ổn định:

- Mạch trở lại bình thường: 70 - 80 lần/phút.

- Chuyển hóa cơ bản giảm xuống tới mức độ tương đối bình thường: 15%.

- Basedow đã có cơn độc giáp trạng cần được mổ sớm sau khi đã điều trị ổn định biến chứng này.

- Chỉ định mổ khi điều trị nội khoa bảo tồn không có kết quả bao gồm cả những trường hợp Basedow có bướu giáp lớn gây chèn ép khí quản, Basedow đã có những biến đổi rõ rệt trong hệ thống tim mạch, bướu giáp không nhỏ đi sau khi điều trị bảo tồn một thời gian dài.

- Khi các dấu hiệu rối loạn thần kinh biểu hiện ra rõ rệt.

- Khi đã có những biến đổi trong hệ thống tim mạch: cần dè dặt trong khi chỉ định phẫu thuật cho những bệnh nhân đã có biến chứng tim mạch nặng. Tuy nhiên trong một số trường hợp sau khi mổ, các dấu hiệu về hệ thống tim mạch đã giảm rõ rệt hoặc biến mất dần.

- Tùy theo lứa tuổi: không phải là một chống chỉ định phẫu thuật trong bệnh Basedow.

- Đôi khi chỉ định mổ vì lý do phục hồi thẩm mỹ cho người bệnh, nhất là bệnh nhân nữ còn trẻ tuổi. Đây là một chỉ định mới cần phải cân nhắc khi áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.

Các bác sĩ tại Bệnh viện Bình Dân đã nêu ra một số chỉ định phẫu thuật sau:

- Bệnh Basedow đã điều trị nội khoa thất bại, tuy nhiên tác giả không nêu cụ thể về định nghĩa thế nào là điều trị nội khoa thất bại và các tiêu chuẩn của chỉ định này.

- Một số bệnh nhân tuy chưa điều trị nội vẫn có thể điều trị ngoại khoa với việc chuẩn bị phẫu thuật bằng Propranolol. Chỉ định này chỉ nên áp dụng cho một số trường hợp bệnh nhân đang bị bệnh Basedow phải điều trị một bệnh ngoại khoa khác đi kèm như: sỏi niệu quản, mổ viêm ruột thừa cấp…

Các tai biến và biến chứng của cuộc mổ

Chảy máu trong và sau khi mổ:

Đây là biến chứng hay gặp nhất, có tỉ lệ từ 1 - 2% tùy theo tác giả. Nguyên nhân thường là bướu giáp quá lớn, dính nhiều, việc chuẩn bị tiền phẫu không kỹ, không sử dụng dung dịch Lugol trước mổ. Vấn đề vô cảm không tốt hoặc do phẫu thuật viên thiếu kinh nghiệm trong việc phẫu tích và xử lý mạch máu đến tuyến giáp.

Tuy nhiên, chảy máu là biến chứng lành tính, hầu như không có tử vong chỉ cần theo dõi kỹ trong và sau mổ. Có trường hợp phải truyền máu hoặc mổ lại để cầm máu.

Vọp bẻ do hạ canxi máu:

Là biến chứng cũng thường hay gặp ở cả Việt Nam lẫn ngoại quốc, tỉ lệ dao động từ 2,7 - 8,5%. Nguyên nhân do làm tổn thương tuyến cận giáp trạng trong lúc mổ. Tuyến cận giáp trạng là một tuyến nội tiết có nhiệm vụ điều hoà lượng canxi trong máu, có tất cả 4 tuyến cận giáp rất nhỏ chỉ bằng hạt đậu xanh rất dễ tổn thương trong phẫu thuật cắt gần hoàn toàn hay hoàn toàn bướu giáp.

Triệu chứng thường thấy: sau mổ 2 - 3 ngày bệnh nhân thấy tê chân tay, mệt mỏi nhiều, thần kinh dễ bị kích thích, lo lắng… nặng hơn sẽ thấy dấu hiệu đau bắp chân như vọp bẻ, bàn tay co quắp, các ngón tay rút lại theo kiểu bàn tay của người đỡ đẻ. Bệnh đáp ứng tốt với điều trị bằng canxi, chỉ cần một liều thuốc canxi thường là canxi bronat tiêm tĩnh mạch là các triệu chứng hết ngay. Tuy nhiên triệu chứng có thể lặp đi lặp lại nhiều lần, một thời gian có thể khỏi nhưng nhiều bệnh nhân bị hạ canxi máu vĩnh viễn.

Việc điều trị bằng cách ghép tuyến cận giáp trạng thường không mang lại hiệu quả. Chủ yếu là dùng canxi, lúc đầu là dạng tiêm tĩnh mạch, sau đo có thể thay thế bằng thuốc uống.

Hạ canxi máu có thể còn do hiện tượng chèn ép mạch máu, phù nề sau mổ của tuyến cận giáp. Với những trường hợp này, tiên lượng thường rất tốt. Bệnh sẽ khỏi sau một thời gian điều trị. Tuy nhiên biến chứng này ít gặp trong phẫu thuật bệnh Basedow hơn trong trường hợp mổ cho các bệnh nhân bị bướu giáp đa nhân nhiễm độc.

Khàn tiếng hay tiếng nói nhỏ sau mổ:

Chiếm tỉ lệ 0,5%, rất thấp tuy nhiên lại là mối lo âu hàng đầu của người bệnh nhất là những bệnh nhân phụ nữ, trẻ tuổi. Nguyên nhân do làm tổn thương dây thần kinh quặt ngược hay dây thần kinh thanh quản trên. Biến chứng hay gặp trong những trường hợp bướu giáp lớn, chảy máu nhiều trong phẫu thuật, hay những trường hợp quanh bướu có hiện tượng viêm dính nhiều, đặc biệt là ở những bệnh nhân đã điều trị không đúng phương pháp bằng cách đốt, chích, lể trên bướu.

Ngày nay với trình độ tay nghề cao của phẫu thuật viên cùng những cải tiến về kỹ thuật mổ, biến chứng này rất ít xảy ra. Việc khàn tiếng cũng có thể là tạm thời nhưng cũng có thể là vĩnh viễn.

Cơn bão giáp trạng:

Đây là một biến chứng nặng, có thể đưa đến tử vong. Nguyên nhân do công tác chuẩn bị phẫu thuật chưa tốt, bệnh nhân được mổ trong tình trạng chưa bình giáp hoàn toàn. Sau mổ, bệnh nhân sốt cao 40 - 410C, rối loạn tâm thần, kích động, mạch rất nhanh có khi lên đến 160 - 170 l/P… nếu không phát hiện và xử trí kịp thời có thể đưa đến tử vong.

Việc điều trị những trường hợp này hiện đã khá hữu hiệu vì có thuốc và phương pháp điều trị tối ưu. Vấn đề cơ bản là phát hiện và xử trí kịp thời. Hiện nay với những phương pháp đánh giá bệnh nhân hữu hiệu, chuẩn bị phẫu thuật tốt, biến chứng này hầu như không thấy xảy ra nữa.

Trước khi quyết định phẫu thuật nên điều trị nội khoa cho bệnh nhân. Thời gian điều trị nội khoa trước phẫu thuật chỉ nên kéo dài không quá 6 tháng.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Cần làm những xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nào?

1. Công thức máu:

Đây là 1 xét nghiệm thường quy, cung cấp cho chúng ta nhiều giá trị trong các bệnh lý thường gặp như bệnh nhiễm trùng, ung thư máu…và đặc biệt là xem có tình trạng thiếu máu hay không. Căn bệnh thiếu máu thường gặp ở Việt Nam, nguyên nhân thường gặp là do ký sinh trùng. Thiếu máu làm cho chúng ta có cảm giác mệt mỏi, chóng mặt, mau mệt, giảm khả năng tập trung và ảnh hưởng đến năng suất làm việc. Việc phát hiện và điều trị sớm giúp cho bệnh nhân mau hồi phục sức khỏe.

2. Đường huyết:

Bệnh đái tháo đường được xếp vào loại bệnh rối loạn chuyển hóa, khi nền kinh tế phát triển thì tĩ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong cộng đồng cũng tăng theo. Trong giai đoạn sớm của bệnh, thường không có triệu chứng. Việc phát hiện sớm giúp ích rất nhiều trong việc điều trị nhằm ngăn ngừa những biến chứng nguy hiểm của bệnh như: tổn thương mắt, thận, tim mạch và hệ thần kinh.

3. Cholesterol:

Hiệp hội Tim mạch quốc tế cho rằng tất cả những người trên 20 tuổi nên kiểm tra cholesterol trong máu, vì nồng độ choloesterol tăng cao là tăng nguy cơ phát triển bệnh tim mạch, vì vậy việc kiểm tra và điều trị kịp thời sẽ hạn chế tối đa nguy cơ bệnh tim mạch.

4. Chức năng gan:

Gan đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể, như là chức năng lọc máu, bài tiết mật, chuyển hóa các chất lipid, protein, carbonhydrat, dự trữ vitamin và muối khoáng…, và khi nền kinh tế phát triển, con người phải giao tiếp và làm việc nhiều dễ phát sinh những bệnh lý gan thường gặp như: viêm gan do siêu vi, viêm gan do rượu bia, viêm gan do ký sinh trùng, gan nhiễm mỡ... Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ hạn chế những nguy hiểm của những biến chứng như: xơ gan, ung thu gan….

5. Chức năng thận:

Những bệnh lý về thận ở giai đoạn sớm không có triệu chứng, và đặc biệt trong bệnh cao huyết áp lâu ngày không được điều trị triệt để sẽ có ảnh hưởng lên thận. Việc khám và phát hiện sớm chức năng thận giúp cho chúng ta kiểm soát, ngăn ngừa bệnh một cách hiệu quả hơn.

6. Viêm gan siêu vi:

Việt Nam là 1 nước trong vùng có tỉ lệ nhiễm bệnh viêm gan cao, theo như Hội Gan mật Việt Nam, tỉ lệ lưu hành siêu vi B trong cộng đồng khoảng 10 - 15%. Viêm gan siêu vi B có thể đưa đến biến chứng như là ung thư gan và xơ gan rất cao. Tuy nhiên rất may mắn cho chúng ta đã có thuốc chủng ngừa bệnh viêm gan siêu vi B, và thuốc điều trị bệnh rất hiệu quả.

Với viêm gan siêu vi C tuy chưa có thuốc chích ngừa, nhưng việc điều trị với thuốc tăng cường hệ miễn dịch cho hiệu quả khá tốt.

Vì vậy, việc xét nghiệm này giúp chúng ta ngăn ngừa bệnh bằng cách chích ngừa cho những ai không mắc bệnh và theo dõi điều trị cho những ai bị mắc bệnh.

7. Chụp X-quang phổi:

Lao phổi và những bệnh lý tắc nghẽn phổi mãn tính do hút thuốc lá và bụi công nghiệp là những bệnh lý thường gặp ở nước ta. Việc thăm khám bệnh và chụp hình phổi là những biện pháp đơn giản dễ thực hiện nhằm giúp cho chúng ta phát hiện sớm ngăn ngừa hậu quả của nó.

Cần làm những xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nào?Chụp X-quang phổi

8. Paps mear:

Ung thư cổ tử cung là một bệnh lý rất nguy hiểm, đứng hàng thứ nhất trong ung thư đường sinh dục nữ. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ hạn chế tỉ lệ tử vong và thương tật. Theo hiệp hội ung thư Mỹ khuyến cáo nên làm paps mear thường quy nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời căn bệnh nguy hiểm này.

Cần làm những xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nào?Paps mear

9. Siêu âm bụng:

Là một phương pháp đơn giản, rất kinh tế nhằm phát hiện những thay đổi bất thường trong ổ bụng, như là bệnh lý gan mật, thận, lách, tụy… là 1 phương pháp mang tính chất tầm soát rất hữu hiệu.

10. Đo điện tim:

Nhằm phát hiện những thay đổi bất thường ở tim do các bệnh lý tim mạch gây nên, có những trường hợp cao huyết áp mà bệnh nhân không phát hiện (như là không đo huyết áp kiểm tra, không khám sức khỏe định kỳ…) lâu ngày ảnh hưởng tới tim mạch. Vì vậy, việc đo điện tim nhằm giúp cho chúng ta phát hiện bệnh cao huyết áp cũng như biến chứng của các bệnh tim mạch.

11. Siêu âm tuyến vú:

Ngoài việc khám phụ khoa và paps mear để phát hiện sớm bệnh ung thu cổ tử cung, ở phụ nữ cũng nên làm thêm siêu âm ngực kiểm tra nhằm phát hiện sớm những thay đổi cấu trúc, những bất thường ở ngực để phòng bệnh và điều trị kịp thời bệnh ung thư vú.

Cần làm những xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nào?Siêu âm bụng

12. Siêu âm màu tim:

Hiện nay siêu âm màu tim là xét nghiệm thường quy đối với tất cả bệnh nhân khi đia khám kiểm tra sức khỏe định kỳ hay nhập bệnh viện để phẫu thuật… Siêu âm Doppler màu giúp đánh giá chính xác hoạt động của cơ tim, các buồng tim và các van tim như van hai lá, van ba lá, van động mạch chủ. Phân suất tống máu của tim nhằm ước lượng tình trạng suy tim, xem khả năng bệnh nhân có chịu đựng được cuộc phẫu thuật hay không về phương diện tim mạch.

Các xét nghiệm, chẩn đoán sẽ được bác sĩ chỉ định tùy theo đối tượng cụ thể. Ngoài ra còn có các xét nghiệm, chẩn đoán chuyên sâu hơn cũng do bác sĩ cân nhắc chỉ định.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Vì sao phải nghỉ ngơi khi viêm tinh hoàn sau quai bị?

Bác sĩ khám thấy bìu bên phải em bị sưng, nóng, đỏ, đau, sờ săn chắc, không có mủ. Bác sĩ thấy H lo lắng, nhất là mẹ bé hỏi bác sĩ không biết sau này bé có con không? Bác sĩ trấn an gia đình bé H: Bé bị viêm tinh hoàn chỉ có một bên, lại vào bệnh viện theo dõi và điều trị sớm như vậy sẽ khỏi sau một tuần và rất hiếm khi vô sinh sau này. Điều quan trọng là cháu phải nghỉ ngơi trên giường, hạn chế đi lại sẽ giúp bệnh ít biến chứng nặng và mau khỏi.

Về chuyên môn, khi người bệnh hoạt động nhiều, cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng khiến cho sức đề kháng của cơ thể giảm, lúc đó thì virút dễ dàng từ nơi xuất phát gần như tuyến nước bọt sẽ lan ra xa đến cơ quan đích khác như tinh hoàn, tụy tạng. Khi virút quai bị đến tinh hoàn, nó sẽ tấn công vào tế bào sinh tinh trong ống sinh tinh, khiến cho ống sinh tinh bị phù nề, hư hủy và cuối cùng xơ hóa. Mỗi tinh hoàn chỉ có từ 400 - 600 ống sinh tinh làm vốn cho cả đời người đàn ông, hàng ngày sản xuất từ 50 - 150 triệu tinh trùng. Nếu tất cả ống sinh tinh đều xơ hóa thì người bệnh chắc chắn là bị vô sinh, thường tỉ lệ này rất hiếm, chỉ khoảng 5/1.000 ca viêm tinh hoàn mà thôi. Ngoài ra, khi tinh hoàn bị sưng sẽ rất dễ bị chấn thương khi va chạm nhẹ như đi lại nhiều, ngồi ép trên yên xe…

Nguy hiểm nhất là tổn thương hàng rào máu - tinh hoàn, hàng rào này ngăn cách không để máu tiếp xúc trực tiếp với tinh trùng. Khi hàng rào này bị vỡ, tinh trùng tiếp xúc trực tiếp với máu có thể kích hoạt hệ thống kháng thể để tạo ra kháng thể chống tinh trùng trong máu. Như vậy, bao nhiêu tinh trùng sản xuất ra đều bị cơ thể tự tiêu diệt, là một trong những nguyên nhân gây vô sinh ở đàn ông.

Để hạn chế biến chứng viêm tinh hoàn và không làm tình trạng biến chứng thêm trầm trọng, bà con mình cần chú ý cho người bệnh được nằm nghỉ tại giường hoàn toàn khi còn sưng đau, mặc quần lót để treo tinh hoàn, giảm chấn thương do rung lắc lúc di chuyển; giảm đau bằng cách uống thuốc theo sự hướng dẫn của thầy thuốc.

BS NGUYỄN THÀNH ÚC

Bệnh lao ruột

Nguyên nhân nào gây ra lao ruột?

Lao ruột có thể xảy ra nguyên phát hoặc thứ phát từ lao cơ quan khác. Lao ruột thường gặp là lao thứ phát sau lao phổi, lao thực quản, lao họng hầu, lao màng bụng. Vi khuẩn lao đến ruột chủ yếu bằng đường tiêu hóa được khu trú ngay ở ruột, rồi sau đó mới đến các đường khác như đường máu, mật... Các tác nhân gây bệnh gồm vi khuẩn lao ở người và các loại khuẩn lao ở các loại động vật nhất là những động vật có vú như trâu, bò, lợn... Chúng xâm nhập trực tiếp qua đường ăn uống, chủ yếu do dùng sữa bò tươi, nước uống (gần vùng chăn nuôi gia súc) hoặc các các sản phẩm sữa có chứa trực khuẩn lao.

Các trực khuẩn lao được bảo vệ khỏi dịch tiêu hóa trong dạ dày bằng lớp áo chất béo và do đó có thể đi vào ruột non và gây nhiễm hồi tràng (khu vực hồi manh tràng), hỗng tràng và tá tràng, theo tần số giảm dần. Sự dư thừa của các mô bạch huyết, ứ đọng và lượng vi khuẩn tiêu hóa ít là nguyên nhân chính gây ra bệnh lao ở hồi tràng. Tình trạng vi khuẩn lây lan qua đường máu đến ruột xảy ra trong lao kê và lao ruột cũng có thể là kết quả của việc lây lan từ cơ quan lân cận.Trực khuẩn lao ngủ yên có thể bị kích hoạt nếu hệ miễn dịch của cơ thể suy giảm.

Khám cho bệnh nhân lao ruột.

Khám cho bệnh nhân lao ruột.

Triệu chứng của bệnh lao ruột

Triệu chứng toàn thân của lao ruột cũng giống như các bệnh lao nói chung: sút cân và mệt mỏi, có thể vẫn có sốt nhẹ về chiều, đổ mồ hôi đêm, suy nhược...

Các triệu chứng của lao ruột thường là cơ năng, chủ yếu là các biểu hiện bệnh lí đường ruột: buồn nôn; đau bụng toàn bộ hay khu trú, thường đau nhiều hơn ở hố chậu phải. Đau quặn bụng với chứng sôi bụng xảy ra do tắc nghẽn đường ruột một phần là do hẹp. Rối loạn đại tiện thông thường là tiêu chảy kéo dài, có thể kém theo phân có máu. Một số trường hợp bị táo bón hoặc xen lẫn tiêu chảy với táo bón. Tiêu chảy xuất hiện phổ biến hơn khi bị loét. Đầy hơi và hơi sôi bụng khu trú ở vùng hố chậu phải.

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc lao ruột

Lao ruột có thể ảnh hưởng đến bất kì ai trong mọi lứa tuổi. Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ mắc lao ruột như: Nhiễm HIV/AIDS và làm suy yếu hệ miễn dịch. Cơ thể gầy yếu. Sử dụng corticosteroid hoặc một số loại thuốc điều trị các bệnh tự miễn, gây ức chế hệ miễn dịch... Những người có tiền sử bệnh lao hoặc chăm sóc bệnh nhân lao, người sống trong môi trường bị ô nhiễm cũng là đối tượng đễ bị lao ruột xâm nhập.

Quá trình chẩn đoán lao không khó, nhưng người bệnh thường chỉ đến khám khi bệnh đã nặng. Vậy nên ngay khi xuất hiện triệu chứng khả nghi, khuyến cáo rằng nên đưa bệnh nhân đến các cơ sở y tế uy tín thăm khám ngay, tránh để bệnh kéo dài.

Phương pháp điều trị lao ruột

Lao ruột được điều trị nội khoa theo phác đồ cụ thể. Mục đích tiêu diệt hết vi khuẩn lao ở tổn thương để khỏi bệnh và tránh tái phát, hạn chế các biến chứng và tử vong. Nguyên tắc: Phối hợp các thuốc chống lao. Người bệnh lao ruột phải dùng thuốc đúng liều và đều đặn. Phải dùng thuốc đủ thời gian và theo 2 giai đoạn tấn công và duy trì.

Phương pháp phẫu thuật được dành riêng cho các biến chứng. Phẫu thuật: Tắc nghẽn đường ruột cấp tính, thủng và viêm phúc mạc có thể được điều trị bảo tồn. Phẫu thuật được thực hiện trong giai đoạn cấp tính có tỷ lệ tử vong cao.

Những thói quen sinh hoạt giúp hạn chế diễn tiến của bệnh lao ruột

Những người mắc bệnh lao nên nghỉ ngơi ở nhà cho đến khi bác sĩ đồng ý cho quay lại cuộc sống bình thường để tránh lây nhiễm cho người khác, có thể là vài tuần. Việc điều trị sẽ tiếp tục trong vài tháng. Nếu bác sĩ xác nhận bệnh không còn lây nhiễm, bạn có thể trở lại hoạt động bình thường.

Nếu người bệnh đang được điều trị tại nhà khi bắt đầu điều trị bệnh lao, trong khi vẫn còn có thể lây nhiễm, thì nên cẩn thận để tránh lây cho các thành viên trong gia đình. Vi khuẩn gây bệnh lao lây lan qua không khí. Bệnh nhân có thể đeo khẩu trang để che mũi, miệng và che miệng bằng khăn giấy khi ho và hắt hơi, sau đó gói khăn giấy lại, cho vào trong một túi rồi vứt nó đi. Hãy chắc chắn rằng bạn đang ở trong phòng có thông gió đầy đủ để bất kỳ vi khuẩn nào bạn thở ra đều được mang đi. Bệnh có thể đặt quạt gió hướng ra cửa sổ để thổi vi khuẩn trong không khí ra khỏi phòng.

Điểm quan trọng nhất là bệnh nhân lao ruột phải uống thuốc đúng giờ. Nếu người bệnh ngừng dùng một số loại thuốc hoặc bỏ qua một số liều thì sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh lao kháng thuốc khó điều trị. Hãy sử dụng một số biện pháp giúp ghi nhớ lịch trình uống thuốc, ghi chép sổ hoặc nhờ người nhà nhắc nhở.

BS. Nguyễn Hiếu

Viêm dây thần kinh thị giác: Dễ giảm thị lực không phục hồi

Bệnh thường gặp ở nữ, trẻ tuổi, mất thị lực bán cấp kèm theo đau khi chuyển động nhãn cầu.

Viêm dây thần kinh thị giác thường gặp ở những người trưởng thành dưới tuổi 45, phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới. Bệnh có thể khởi phát sau nhiễm virut hoặc do viêm, nhiễm khuẩn, virut, nấm, u, chấn thương, tự miễn...

Tuy nhiên, bệnh xuất hiện nhiều ở những người mắc bệnh đa xơ cứng, xảy ra khi hệ miễn dịch của cơ thể tấn công “nhầm” và tiêu diệt lớp vỏ bọc bảo vệ của dây thần kinh (bao myelin). Ngoài ảnh hưởng đến thị lực, tổn thương thần kinh do bệnh đa xơ cứng còn khiến bệnh nhân bị mất dần chức năng vận động và cảm giác, cơ thể suy nhược.

Viêm dây thần kinh thị giác là một nguyên nhân giảm thị lực.

Viêm dây thần kinh thị giác là một nguyên nhân giảm thị lực.

Dấu hiệu nhận biết

Ở giai đoạn cấp tính: Bệnh nhân bị suy giảm thị lực một mắt tiến triển nhanh, có thể gặp ở cả 2 mắt. Bệnh nhân bị xơ hóa mảng có thể bị viêm thị thần kinh tái phát, tức là có thể đã có giai đoạn bị giảm thị lực mắt cùng bên hoặc đối bên. Bệnh nhân bị viêm tủy thị thần kinh thường đặc trưng bởi viêm thị thần kinh và viêm tủy nặng, hai bên. Tuy nhiên, viêm thị thần kinh đôi khi xuất hiện trước bệnh tủy sống.

Rối loạn sắc giác (sự thay đổi trong nhận biết màu sắc) ở mắt bệnh, đôi khi rối loạn này quan trọng hơn giảm thị lực.

Đau nhãn cầu hoặc sau hốc mắt: Thường liên quan đến sự thay đổi thị lực và tăng lên khi chuyển động mắt; đau có thể xuất hiện trước khi mất thị lực.

Dấu hiệu Ulthoff: Giảm thị lực khi nhiệt độ cơ thể tăng như sau vận động hoặc sốt.

Dấu hiệu Pulfrich: Nhìn vật thể di chuyển theo đường thẳng thành đường cong, hiện tượng này là do sự dẫn truyền không cân xứng giữa 2 dây thần kinh thị giác.

Các triệu chứng thực thể là giảm phản xạ đồng tử với ánh sáng ở mắt bị tổn hại: Thường thấy tổn hại đồng tử hướng tâm tương đối (RAPD) hoặc đồng tử Marcus Gunn. Bệnh nhân giảm thị lực từ nhẹ đến mất thị lực hoàn toàn, thường xảy ra ở một mắt, nhưng có thể là cả hai mắt. Ngoài ra còn có các biểu hiện bất thường thị giác màu và sự nhạy cảm tương phản xảy ra ở hầu hết các bệnh nhân viêm thị thần kinh có giảm thị lực. Tổn khuyết thị trường, có thể bao gồm ám điểm trung tâm, cạnh trung tâm, hình cung, bước nhảy phía mũi hoặc khuyết nửa ngang của thị trường.

Khi khám các bác sĩ soi đáy mắt thấy 1/3 trường hợp bệnh nhân viêm thị thần kinh là viêm đĩa thị với biểu hiện: phù, cương tụ đĩa thị, bờ hơi mờ, lồi lên, có thể xuất huyết quanh đĩa thị. 2/3 trường hợp còn lại viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu không phát hiện tổn thương đầu thị thần kinh trên soi đáy mắt.

Chẩn đoán bệnh

Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng.

Hình ảnh cộng hưởng từ có độ nhạy và độ đặc hiệu trong đánh giá viêm thị thần kinh và phát hiện tổn thương chất trắng của hệ thống thần kinh trung ương. Hình ảnh cộng hưởng từ cũng giúp để loại trừ những tổn thương khác.

Điện thể gợi thị giác (VEPs) có thể được xem xét ở những bệnh nhân nghi ngờ viêm thị thần kinh. Xét nghiệm này có thể bất thường ngay cả khi hình ảnh cộng hưởng từ bình thường. Ngoài ra, để loại trừ bệnh các bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân làm những xét nghiệm máu như: máu lắng, xét nghiệm chức năng tuyến giáp, kháng thể kháng nhân, Enzyme ACE, phản ứng huyết tương nhanh, nghiên cứu đột biến acid nhân.

Điều trị thế nào?

Do có nhiều nguyên nhân dẫn đến viêm thị thần kinh nên người bệnh cần được khám bệnh toàn diện và điều trị theo các chuyên khoa khác nhau như: tai-mũi-họng, thần kinh, truyền nhiễm, dị ứng... Ngay khi có nghi ngờ viêm thị thần kinh, cần ngừng ngay việc sử dụng các chất gây nhiễm độc thị thần kinh. Tại mắt, cần giải quyết rối loạn tuần hoàn, dinh dưỡng tại dây thần kinh, chống viêm, chống nhiễm trùng... Nói chung, việc điều trị viêm thị thần kinh chủ yếu là loại trừ nguyên nhân mới khỏi bệnh hoàn toàn. Ngay sau khi có chẩn đoán xác định, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân nhập viện, điều trị bằng corticoid. Thuốc corticoid có thể được chỉ định với liều rất cao, dùng cả đường uống lẫn đường tiêm, truyền tĩnh mạch.

Với kháng sinh, tùy theo tác nhân gây bệnh mà bác sĩ sẽ cho kháng sinh phù hợp. Trong một số trường hợp đặc biệt có thể người bệnh phải dùng tới thuốc ức chế miễn dịch (bệnh Behcet). Các loại thuốc giãn mạch dùng theo đường uống và tiêm cạnh nhãn cầu cùng các vitamin nhóm B như B1, B6, B12 cũng có thể được sử dụng. Viêm thị thần kinh là bệnh mắt nặng, có khả năng tái phát, biến chứng và di chứng nặng nề. Việc phát hiện bệnh sớm, điều trị tích cực rất có ý nghĩa trong phục hồi chức năng thị giác, tránh tái phát và biến chứng.

Thị lực có thể bắt đầu cải thiện sau khi điều trị corticoid, bệnh nhân phục hồi sau từ 2-3 tuần đến 1-2 tháng, tuy nhiên phục hồi hoàn toàn là ít có khả năng. Hậu quả cuối cùng của viêm thị thần kinh, đặc biệt ở những bệnh nhân tái phát nhiều lần là teo gai thị.

BS. Lê Đình Anh

Sôcôla đen tốt cho sức khỏe

Sau đó, họ dùng các thiết bị chẩn đoán kiểm tra chi tiết những gì thay đổi trong bộ não, hệ tim mạch và nhiều bộ phận khác trên cơ thể của tình nguyện viên. Kết quả, các nhà khoa học nhận thấy, sô-cô-la đen giúp giảm nguy cơ các bệnh về tim mạch, sa sút trí tuệ, trầm cảm, tiểu đường, tăng cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa ung thư… Ngoài ra, nhiều chức năng cơ thể được kích thích, não bộ nhanh nhạy, tim mạch khỏe mạnh, hệ miễn dịch và các quá trình sinh hóa cũng trơn tru.

GS. Lee Berk - tác giả chính của nghiên cứu cho biết: Có được kết quả này là nhờ một chất chống oxy hóa cực mạnh trong cacao. Từ kết quả này, trong thời gian tới, ông và các cộng sự tiếp tục mở rộng nghiên cứu ở các nhóm lớn hơn để khẳng định thêm những kết quả trên.

Trước đó, một nghiên cứu của Canada dựa trên gần 45.000 người cũng cho thấy, ăn sô-cô-la có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ

Phương Hoa

((Theo Huffington Post))

Để phòng bệnh lao có hiệu quả

Đặc điểm lây truyền của bệnh lao

Có thể nói bệnh lao là bệnh lây truyền qua đường hô hấp do hít phải các hạt khí dung trong không khí có chứa vi khuẩn lao. Các hạt khí dung có chứa vi khuẩn lao được sinh ra khi người mắc lao phổi trong giai đoạn tiến triển ho, khạc, hắt hơi bắn ra môi trường bên ngoài; hạt khí dung này có đường kính rất nhỏ khoảng 1 - 5 micromét bay lơ lửng trong không khí khoảng từ vài giờ đến 24 giờ. Trên thực tế, khả năng lây lan sẽ giảm mạnh sau khi người bệnh được điều trị trong khoảng thời gian 2 - 4 tuần; vì vậy việc phát hiện và điều trị sớm bệnh lao sẽ làm giảm sự lây lan trong cộng đồng. Xác định tình trạng nhiễm lao khi người có mang vi khuẩn lao trong cơ thể nhưng vi khuẩn không sinh trưởng được do sự khống chế của hệ thống miễn dịch, vi khuẩn có khả năng tồn tại trong cơ thể nhưng không hoạt động và có thể hoạt động sau này khi sức đề kháng của cơ thể suy giảm; người nhiễm lao không có biểu hiện lâm sàng của bệnh lao, số lượng vi khuẩn lao ít, có thể phát hiện tình trạng nhiễm lao thông qua các xét nghiệm miễn dịch học như phản ứng test da hoặc xét nghiệm IGRA (interferon gamma release assay) là xét nghiệm trên cơ sở giải phóng interferon gamma. Theo đó, bệnh lao được xác định là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis gây nên và có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể nhưng lao phổi là thể bệnh lao khá phổ biến chiếm tỉ lệ khoảng 80 - 85% các trường hợp, đây là nguồn lây chính cho những người ở chung quanh; người bệnh có các dấu hiệu của bệnh lao, số lượng vi khuẩn ở người bệnh lao nhiều hơn so với số lượng vi khuẩn ở người nhiễm lao.

Nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao và yếu tố lây truyền

Theo các nhà khoa học, trên thực tế nguy cơ người có khả năng chuyển từ tình trạng nhiễm lao sang bệnh lao chiếm khoảng 10% trong suốt cuộc đời ở những người khỏe mạnh có hệ thống miễn dịch bình thường bị nhiễm lao từ lúc còn nhỏ sẽ chuyển thành bệnh lao. Đối với những người bị suy giảm miễn dịch như đồng nhiễm HIV thì nguy cơ chuyển từ tình trạng nhiễm lao sang bệnh lao hoạt động sẽ tăng lên rất cao và chiếm tỉ lệ khoảng 10% mỗi năm.

Để phòng bệnh lao có hiệu quảVi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis

Sự lây truyền bệnh lao có một số yếu tố có liên quan ảnh hưởng như: sự tập trung của các hạt khí dung trong không khí bị chi phối bởi số lượng vi khuẩn do bệnh nhân ho khạc ra và sự thông khí tại khu vực phơi nhiễm, thời gian tiếp xúc với các hạt khí dung bị nhiễm vi khuẩn lao, trạng thái gần với nguồn các hạt khí dung mang vi khuẩn lao; hệ thống miễn dịch bị suy giảm trong trường hợp nhiễm HIV, mắc bệnh đái tháo đường và suy dinh dưỡng... Đồng thời những người sử dụng thuốc lá, rượu bia có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm lao và bệnh lao. Ngoài ra, các yếu tố môi trường cũng có tác động ảnh hưởng như không gian chật hẹp, thông khí không đầy đủ, tái lưu thông không khí có chứa các hạt khí dung mang vi khuẩn lao.

Các biện pháp phòng bệnh lao

Phòng bệnh lao muốn có hiệu quả phải áp dụng các biện pháp cụ thể để giảm nguy cơ nhiễm vi khuẩn lao và giảm nguy cơ chuyển từ tình trạng nhiễm lao sang bệnh lao.

Lao phổi là thể bệnh lao khá phổ biến chiếm tỉ lệ khoảng 80 - 85% các trường hợp

Giảm nguy cơ nhiễm vi khuẩn lao được thực hiện bằng cách kiểm soát nhiễm khuẩn lao, đây là việc kết hợp các biện pháp nhằm hạn chế tối thiểu nguy cơ lan truyền của bệnh lao trong cộng đồng như: kiểm soát vệ sinh môi trường, sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân cho nhân viên y tế và giảm tiếp xúc với nguồn lây. Kiểm soát vệ sinh môi trường để giảm đậm độ các hạt nhiễm khuẩn trong không khí bằng cách thông gió tốt, những cửa đi ra vào và cửa sổ của phòng khám bệnh, khu nhà chờ và phòng bệnh cần được mở cho thông gió tự nhiên hoặc dùng quạt điện đúng chiều để làm loãng các hạt nhiễm khuẩn và đẩy vi khuẩn ra ngoài, dưới ánh nắng mặt trời vi khuẩn lao sẽ bị tiêu diệt; cần bố trí vị trí làm việc hợp lý theo chiều thông gió, không để không khí đi từ người bệnh đến tiếp xúc với nhân viên y tế; hướng dẫn, tư vấn để người bệnh thay đổi hành vi về vệ sinh hô hấp nhằm làm giảm các hạt nhiễm khuẩn phát tán ra môi trường bằng cách dùng khẩu trang hoặc ít nhất là có khăn che miệng khi tiếp xúc nói chuyện với người khác kể cả nhân viên y tế lúc hắt hơi hay ho, nên khạc đờm vào giấy hoặc ca cốc và bỏ đúng nơi quy định, phải rửa tay bằng xà phòng thường xuyên, lấy đờm xét nghiệm đúng nơi quy định, tốt nhất ở ngoài trời và môi trường thông thoáng hoặc ở nơi có thông gió tốt, ít khả năng tiếp xúc của nhân viên y tế và người khác, không nên đặt nơi lấy bệnh phẩm đờm ở những phòng nhỏ đóng kín hay nhà vệ sinh. Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân cho nhân viên y tế là điều bắt buộc, lưu ý khẩu trang thông thường ít có tác dụng bảo vệ phòng nhiễm vi khuẩn lao, ở những nơi có nguy cơ lây nhiễm cao cần mang khẩu trang bảo vệ hô hấp đạt tiêu chuẩn như loại khẩu trang N95 hoặc tương đương trở lên. Giảm tiếp xúc nguồn lây bằng biện pháp cách ly, nên có nơi chăm sóc và điều trị riêng cho người bệnh lao phổi có kết quả xét nhiệm AFB (acid fast bacillus) dương tính, đặc biệt đối với người bệnh lao đa kháng thuốc; trong các cơ sở đặc biệt như trại giam, cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở bảo trợ xã hội có khả năng lây nhiễm rất cao nên cần cách ly tuyệt đối những người bệnh để điều trị mới tránh được các vụ dịch nghiêm trọng; nhân viên y tế cần tuân thủ quy trình khám bệnh và chăm sóc người bệnh, khi khám, hỏi bệnh, thực hiện tư vấn nên để người bệnh quay lưng lại, sự biểu hiện sự thân thiện qua hành động, cử chỉ, lời nói chứ không nhất thiết phải tiếp xúc trực tiếp; để bảo vệ cho người nhiễm HIV đến khám bệnh, cần xác định những người nghi lao qua ho khạc để hướng dẫn họ dùng khẩu trang, giấy che miệng, chuyển đến khu chờ riêng hoặc phòng cách ly nếu có và ưu tiên khám trước để giảm thời gian tiếp xúc.

Để phòng bệnh lao có hiệu quảPhòng bệnh lao bằng giảm nguy cơ nhiễm vi khuẩn lao và nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao

Giảm nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao được thực hiện bằng cách tiêm vắcxin BCG và điều trị lao tiềm ẩn. Cần lưu ý để triển khai hai biện pháp này có hiệu quả.

Tiêm vắcxin BCG (Bacille Calmette-Guérin) do chương trình tiêm chủng mở rộng tiến hành nhằm giúp cho cơ thể hình thành sự miễn dịch chống lại bệnh lao khi bị nhiễm lao; để vắcxin có tác dụng cần tiêm đúng kỹ thuật, đúng liều lượng, vắcxin phải được bảo quản đúng, đảm bảo chất lượng trong toàn bộ dây chuyền đến từng liều sử dụng cho trẻ; chỉ định tiêm vắcxin BCG đối với trẻ không nhiễm HIV được tiến hành cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi, đối với trẻ nhiễm HIV thực hiện ở trẻ không có triệu chứng của bệnh HIV/AIDS; chống chỉ định tuyệt đối ở trẻ suy giảm miễn dịch bẩm sinh, trẻ nhiễm HIV có triệu chứng lâm sàng của bệnh HIV/AIDS; chống chỉ định tương đối ở trẻ đẻ non, thiếu tháng, đang mắc bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, sau khi nhiễm một bệnh cấp tính, nhiễm virút cúm, sởi; vắcxin được tiêm theo đường tiêm trong da, liều lượng 0,05mg tương đương 1/10ml dung dịch, tại vị trí tiêm nổi vết sẩn đường kính khoảng 4 - 5mm, nên tiêm ở vùng giữa 1/3 trên và 2/3 dưới tại mặt ngoài chếch sau cánh tay trái, phía dưới vùng cơ Delta; sau tiêm khoảng 3 đến 4 tuần tại chỗ tiêm sẽ có một nốt sưng nhỏ, rò dịch trong vài tuần rồi kín miệng và đóng vảy, khi vảy rụng sẽ để lại một sẹo nhỏ màu trắng, có thể hơi lõm; biến chứng do tiêm vắcxin BCG có thể xảy ra như: có nốt loét to với đường kính khoảng 5 - 8 mm làm mủ và kéo dài, có thể dùng dung dịch isoniazid (INH) 1%, bột isoniazid (INH) hoặc rifampicin xử trí tại chỗ, bị viêm hạch với tỉ lệ khoảng dưới 1% thường xuất hiện trong 6 tháng sau tiêm, có thể sưng hạch nách hoặc hạch thượng đòn cùng bên tiêm, hạch mềm, di động, sưng chậm và vỡ, có thể rò kéo dài trong vài tháng rồi lành tự nhiên, khi hạch nhuyễn hóa có thể chích và rửa sạch, rắc bột isoniazid (INH) hoặc rifampicin tại chỗ, không cần dùng thuốc chống lao đường toàn thân; ở những trẻ phát triển thành bệnh BCG thì cần đánh giá tình trạng miễn dịch và điều trị bằng thuốc chống lao hàng thứ nhất, trừ pyrazinamid và có thể điều trị phẫu thuật phối hợp.

Việc phát hiện và điều trị sớm bệnh lao sẽ làm giảm sự lây lan trong cộng đồng

Điều trị lao tiềm ẩn cần thực hiện đối với tất cả những người lớn nhiễm HIV đã được sàng lọc hiện không mắc bệnh lao, trẻ em dưới 5 tuổi và trẻ từ 0 - 14 tuổi có nhiễm HIV sống cùng nhà với người bệnh lao phổi, những trẻ này được xác định không mắc lao; phác đồ điều trị quy định đối với người lớn dùng isoniazid (INH) liều lượng 300mg mỗi ngày, uống một lần hàng ngày trong 9 tháng phối hợp với vitamin B6 liều lượng 25mg hàng ngày; đối với trẻ em dùng isoniazid (INH) liều lượng 10mg/kg cân nặng mỗi ngày, uống một lần vào một giờ nhất định và thường uống trước bữa ăn 1 giờ, uống hàng ngày trong 6 tháng liền tương ứng tổng 180 liều INH. Có thể dùng phác đồ điều trị 3HP gồm isoniazid (INH) và rifapentine (RPT) trong thời gian 3 tháng, người lớn và trẻ em trên 12 tuổi dùng INH 15mg/kg cân nặng, tối đa 900mg mỗi lần phối hợp với RPT 300mg ở trẻ 10 - 14kg, 450mg ở trẻ 14,1 - 25kg, 600mg ở trẻ 25,1 - 32kg, 750mg ở người 32,1 - 49,9kg và tối đa 900mg ở người từ 50kg trở lên, uống mỗi tuần một lần với tổng số 12 liều. Cần lưu ý đối với các đối tượng đặc biệt như: trẻ em dưới 2 tuổi không nên dùng phác đồ 3HP. Người nhiễm HIV đang điều trị ARV nên sử dụng phác đồ 9H, người nhiễm HIV khỏe mạnh và không dùng ART có thể được xem xét sử dụng phác đồ 3HP (rifampin chống chỉ định ở người nhiễm HIV đang điều trị ARV). Phụ nữ mang thai và cho con bú ưu tiên sử dụng phác đồ 9H, phác đồ 3HP chống chỉ định sử dụng cho phụ nữ mang thai và có ý định mang thai trong thời gian điều trị, cần bổ sung thêm 10 - 25mg vitamin B6 (pyridoxin)mỗi ngày, lượng INH qua sữa mẹ không đủ liều lượng để điều trị lao tiềm ẩn cho trẻ sơ sinh, có thể trì hoãn điều trị cho phụ nữ mang thai và mới sinh khoảng 2 - 3 tháng sau sinh nếu không phải là người tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân lao hoặc nhiễm HIV. Trong quá trình điều trị cần phải theo dõi đánh giá, đối với người lớn nên cấp thuốc hàng tháng và đánh giá việc dùng thuốc ít nhất 1 tháng một lần, nếu người bệnh bỏ trị với số liều bỏ trị ít hơn 50% tổng liều thì có thể bổ sung cho đủ liều, nếu số liều bỏ trị quá 50% tổng liều thì nên bắt đầu điều trị lại từ đầu sau khi bỏ trị; đối với trẻ em nên tái khám mỗi tháng 1 lần, khi tái khám phải cân trọng lượng của trẻ, đánh giá sự tuân thủ điều trị và tìm dấu hiệu tác dụng ngoài ý muốn của thuốc chống lao như vàng da, vàng mắt..., điều chỉnh liều lượng thuốc điều trị theo cân nặng hàng tháng, nếu trẻ xuất hiện các triệu chứng nghi lao trong khi đang điều trị lao tiềm ẩn nên chuyển trẻ lên tuyến quận, huyện, thị xã, thành phố khám phát hiện bệnh lao, nếu xác định trẻ không mắc lao thì tiếp tục điều trị đủ liệu trình, nếu trẻ bỏ trị liên tục trên 2 tháng mà muốn tiếp tục thì phải đăng ký điều trị lại từ đầu. Đồng thời phải đánh giá việc điều trị hoàn thành hay không hoàn thành như: hoàn thành điều trị đối với phác đồ 6H là phải uống đủ 180 liều INH trong 6 tháng liên tục hoặc không quá 9 tháng tính từ lúc bắt đầu điều trị, trong đó không có lần nào bỏ điều trị quá 8 tuần; đối với phác đồ 9H là phải uống đủ 270 liều INH tính từ lúc bắt đầu điều trị, trong đó không có lần nào bỏ điều trị quá 8 tuần; đối với phác đồ 3HP là phải hoàn thành 12 liều điều trị trong thời gian 3 tháng. Không hoàn thành điều trị đối với phác đồ INH là những trường hợp bỏ uống thuốc quá 8 tuần hoặc trong thời gian 9 tháng kể từ khi bắt đầu điều trị không uống đủ 180 liều INH với phác đồ 6H hoặc không uống đủ 270 liều INH với phác đồ 9H; đối với phác đồ 3HP là không uống đủ 12 liều trong thời gian 3 tháng. Tiếp tục phác đồ hoặc điều trị lại từ đầu tùy theo trường hợp, đối với phác đồ INH thì tiếp tục phác đồ nếu bệnh nhân bỏ trị dưới 8 tuần và có nguyện vọng được tiếp tục điều trị hoặc điều trị lại từ đầu nếu người bệnh bỏ trị trên 8 tuần; đối với phác đồ 3HP thì chưa có khuyến cáo liên quan. Tác dụng phụ nhẹ có thể xảy ra khi dùng thuốc như viêm dây thần kinh ngoại vi, xử trí bằng vitamin B6 với liều lượng 100mg mỗi ngày; trường hợp nặng có thể gây tổn thương gan biểu hiện triệu chứng vàng da, chán ăn, men gan tăng cao, xử trí bằng cách ngừng INH và chuyển bệnh nhân đến các cơ sở y tế để điều trị.

Phòng lây nhiễm lao ở cơ sở y tế và hộ gia đình

Tại các cơ sở y tế, để phòng lây nhiễm lao cần phải thực hiện đầy đủ quy chế kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện và hướng dẫn kiểm soát lây nhiễm lao. Lãnh đạo cơ sở y tế liên quan cần quan tâm, có kế hoạch, quy trình và phân công người phụ trách dự phòng lây nhiễm lao tại đơn vị; phải đầu tư thích hợp các điều kiện cần thiết phục vụ kế hoạch và quy trình dự phòng lây nhiễm cho nhân viên y tế và cho người bệnh tại đơn vị. Kế hoạch và quy trình cần được phổ biến rộng rãi cho nhân viên từ các bước quản lý người bệnh, lấy bệnh phẩm, tuân thủ quy trình vệ sinh và phải được công khai dưới dạng bảng biểu, biển báo dễ thấy, dễ thực hiện và khuyến khích mọi nhân viên tham gia kiểm tra giám sát, góp ý. Định kỳ, người phụ trách dự phòng lây nhiễm lao báo cáo với lãnh đạo về thực hiện kế hoạch và tham mưu về các điểm cần thực hiện để cải thiện chất lượng công tác dự phòng lây nhiễm lao trong đơn vị.

Tại hộ gia đình, để phòng lây nhiễm lao người bệnh phải tuân thủ điều trị lao theo đúng hướng dẫn của bác sĩ để đạt hiệu quả điều trị, tránh nguy cơ lây nhiễm, đặc biệt là khi còn ho khạc ra vi khuẩn lao, có xét nghiệm đờm AFB dương tính. Tránh lây nhiễm lao cho người xung quanh bằng cách: dùng khẩu trang hoặc ít nhất có khăn che miệng khi tiếp xúc nói chuyện với người khác, khi hắt hơi, ho; không khạc nhổ bừa bãi, khạc đờm vào khăn giấy rồi đốt, rửa tay với xà phòng thường xuyên; đảm bảo vệ sinh môi trường nơi ở của người bệnh như thông khí tự nhiên ở cửa ra vào, cửa sổ, có ô thoáng khí và có ánh nắng rọi vào; thường xuyên phơi nắng đồ dùng cá nhân, chiếu, chăn, màn... của bệnh nhân.

Điều cần quan tâm

Đối với tất cả các loại bệnh tật, đặc bệnh là các bệnh lây nhiễm như bệnh lao thì khẩu hiệu hành động của ngành y tế đặt ra là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Nói thì dễ nhưng thực tế làm thì khó vì mọi người dân trong cộng đồng cần phải được nâng cao nhận thức hiểu biết đầy đủ, có thái độ thực hành đúng đắn và chuyển đổi hành vi một cách cụ thể mới đem lại hiệu quả tốt. Với các đặc điểm lây truyền của bệnh lao, nguy cơ chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao và yếu tố lây truyền cùng với các biện pháp phòng bệnh lao được xác định là phải giảm nguy cơ nhiễm vi khuẩn lao và giảm nguy cơ chuyển từ tình trạng nhiễm lao sang bệnh lao đã được nêu ở trên; hiệu quả phòng bệnh lao có đạt kết quả tốt hay không còn tùy thuộc vào biện pháp thực hiện tích cực. Cần lưu ý việc phòng bệnh lao tại các cơ sở y tế và hộ gia đình cũng góp phần quan trọng trong việc khống chế tình trạng nhiễm lao trong cộng đồng đang có xu hướng lây lan hiện nay.

BS. NGUYỄN TR M ANH

Mưa lũ, cảnh giác với viêm gan E

Viêm gan virut E là một bệnh thường tự giới hạn và khỏi trong vòng 4-6 tuần. Đôi khi bệnh phát triển thành ác tính khiến bệnh nhân suy gan cấp có thể dẫn đến tử vong.

Dễ gặp trong mưa lũ

Virut viêm gan E lây truyền chủ yếu qua đường phân-miệng do ô nhiễm phân của nước uống, do đó, khi môi trường xung quanh chúng ta không đảm bảo vệ sinh, đặc biệt là trong và sau mưa lũ thì khả năng mắc bệnh viêm gan E của người dân sống trong các vùng đó rất dễ dàng xảy ra.

Những con đường lây nhiễm của virut viêm gan E.

Những con đường lây nhiễm của virut viêm gan E.

Các đường lây khác của HEV đã được xác định, bao gồm: Truyền từ thực phẩm do ăn các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật bị nhiễm bệnh; Truyền từ các sản phẩm máu bị nhiễm bệnh; Truyền từ mẹ sang con trong quá trình thai nghén. Mặc dù con người được xem là vật chủ tự nhiên của virut viêm gan E, kháng thể chống lại virut viêm gan E hoặc các virut có liên quan chặt chẽ cũng đã được phát hiện ở các loài linh trưởng và một số loài động vật khác.

Viêm gan E là một bệnh lây truyền theo đường nước, các nguồn nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm có liên quan đến các đợt dịch lớn. Bệnh xuất hiện theo chu kỳ khoảng từ 5-10 năm, thường có một vụ dịch tại một địa phương nào đó. Nguyên nhân là virut viêm gan E có trong phân, rác, nước thải khi mưa lũ về làm tràn ngập các vùng đất bẩn có chứa các vi sinh vật gây bệnh, trong đó có virut viêm gan A, E. Virut viêm gan E được đưa đến nhiều vùng dọc theo triền sông.

Từ nước, virut bám vào thức ăn như rau, thực phẩm (do dùng nước sông, ao hồ để rửa), nước uống. Khi con người ăn, uống phải loại thức ăn, nước uống đó sẽ mắc bệnh. Việc ăn các hải sản có vỏ còn sống hoặc chưa nấu chín cũng đã được xác định là nguồn gốc của các trường hợp nhiễm HEV lẻ tẻ trong vùng dịch lưu hành.

Các yếu tố nguy cơ đối với nhiễm viêm gan E có liên quan đến sự kém vệ sinh trong những khu vực rộng lớn có sự phát tán virut viêm gan E có trong phân.

Tuy nhiên, virut viêm gan E có nhược điểm là sức đề kháng rất kém khi ra bên ngoài môi trường, chỉ cần đun sôi trong vòng từ 1 - 2 phút là có khả năng tiêu diệt được chúng. Đây là một đặc điểm rất thuận lợi cho công tác phòng bệnh.

Khó nhận biết

Thời kỳ ủ bệnh sau khi phơi nhiễm với virut viêm gan E là khoảng 3-8 tuần, trung bình là 40 ngày. Các giai đoạn của thời gian lây nhiễm là không rõ ràng.

Virut viêm gan E gây viêm gan cấp một cách rời rạc và thành dịch. Sự nhiễm HEV có triệu chứng thường gặp nhất ở người trẻ tuổi từ 15-40. Tuy nhiên, trẻ em là đối tượng thường gặp dễ bị nhiễm HEV, hầu như không có triệu chứng hoặc bệnh chỉ rất nhẹ, không có vàng da nên rất khó chẩn đoán.

Các dấu hiệu và triệu chứng điển hình của viêm gan E gồm: vàng da (vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu và phân nhạt màu); người bệnh ăn không ngon, chán ăn. Gan to, ấn đau, bệnh nhân thường than phiền đau vùng thượng vị, buồn nôn, nôn và sốt. Những triệu chứng này thường nhầm lẫn sang các bệnh thông thường khác. Và đặc biệt, những triệu chứng của viêm gan virut E rất khó phân biệt với giai đoạn cấp của các viêm gan do virut khác và thường kéo dài trong 1-2 tuần.

Ở một số trường hợp viêm gan E cấp tính có thể dẫn đến viêm gan tối cấp (suy gan cấp) và có thể gây tử vong. Viêm gan tối cấp thường hay xảy ra hơn ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai.

Viêm gan virut E mạn hiếm gặp và thường hay gặp ở những người bị kìm hãm miễn dịch, đặc biệt là hay gặp ở bệnh nhân được ghép tạng. Đôi khi viêm gan E mạn có thể gây xơ hóa hoặc xơ gan, theo nghiên cứu, khoảng 10% các trường hợp bệnh viêm gan E chuyển diễn tiến sang xơ gan.

Cần chủ động phòng bệnh

Chủ động phòng bệnh là phương pháp hiệu quả nhất để chống lại nhiễm HEV. Ở mức độ quốc gia, nguy cơ lây nhiễm HEV có thể được làm giảm bằng cách: Duy trì tiêu chuẩn chất lượng cho các nguồn nước công cộng. Cần xử lý hệ thống nguồn nước thích hợp để loại bỏ các chất thải vệ sinh.

Đối với vệ sinh cá nhân, cần duy trì thói quen vệ sinh như rửa tay với nước sạch, đặc biệt là trước khi chế biến thức ăn; Tránh nước hoặc nước đá mà chưa biết độ sạch là một biện pháp hữu hiệu để giảm nguy cơ nhiễm HEV.

Cần vệ sinh môi trường thật tốt, đặc biệt là trước, trong và sau mưa lũ; Cần có biện pháp quản lý phân và chất thải sau mưa lũ, đặc biệt các vùng triền sông hay có lũ, lụt. Bên cạnh đó, xử lý nguồn nước cũng đóng vai trò quan trọng. Nguồn nước là ổ chứa vi sinh vật gây bệnh, trong đó có virut viêm gan A và E. Vì vậy, sau lũ lụt cũng như định kỳ cần thau rửa đồ dùng sinh hoạt, đồ vật đựng nước cũng như giếng khơi. Các nguồn nước ứ đọng như ao, hồ, cống rãnh cần được khơi thông. Cần có biện pháp khử khuẩn bằng cloramin đúng phương pháp (dưới sự hướng dẫn của cán bộ y tế); Không nên rửa rau, thực phẩm ở các sông, suối, ao, hồ không hợp vệ sinh. Tuyệt đối không ăn rau sống, không uống nước chưa đun sôi, kể cả nước đá mà nguồn nước dùng chưa tiệt khuẩn.

Đối với người đã mắc bệnh, ngoài việc thực hiện theo chỉ định của bác sĩ, cần nghỉ ngơi, hoạt động nhẹ nhàng. Ăn giàu đạm, vitamin, giảm mỡ động vật. Tăng cường hoa quả tươi. Không rượu, bia và hạn chế sử dụng các thuốc, hóa chất gây độc cho gan.

BS. Nguyễn Văn Nghiêm

Những căn bệnh có khả năng “cầm chân” các căn bệnh khác

1. Bệnh hồng cầu hình liềm và sốt rét

Những người mang mầm bệnh hồng cầu hình liềm (Sickle-Cell) được xem là có khả năng kháng lại bệnh sốt rét. Hồng cầu hình liềm hay bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm là một rối loạn di truyền, định tính bởi sự bất thường trong phân tử hemoglobin vận chuyển oxy trong các tế bào hồng cầu dẫn đến việc các tế bào này có thiên hướng mang hình dạng bất thường, cứng và trông giống lưỡi liềm trong những điều kiện nhất định. Bệnh hồng cầu hình liềm liên quan đến một số vấn đề sức khỏe cấp và mãn tính, như nhiễm trùng nặng và các cơn đau trầm trọng, gia tăng nguy cơ tử vong. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh Mỹ (CDC), 60% người mắc bệnh hồng cầu hình liềm liềm có khả năng sống sót cao nếu mắc bệnh sốt rét. Điều này có nghĩa, ở những khu vực có dịch sốt rét cao như Trung và Nam Mỹ, châu Phi, châu Á, và khu vực châu Á -Thái Bình Dương nếu mắc bệnh hồng cầu hình liềm thì khả năng sống sót cao. Nói cách khác, hai bệnh “kỵ nhau này” có tác dụng kìm chân lẫn nhau.

Cơ chế kìm chân của bệnh hồng cầu hình liềm và sốt rét là nhờ một thành phần của hemoglobin có tên haem. Nồng độ thấp của haem kích thích haem oxengase-1 đồng thời phá vỡ chính nó tức haem. Điều này cho phép carbon monoxide (CO) có nhiều trong máu, do haem oxengase-1 giải phóng carbon monoxide, nên nó đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa sốt rét. Kết luận trên được dựa trên thử nghiệm ở chuột và quan sát những kết quả khả quan.

2. Bệnh Tay-Sachs và bệnh lao

Bệnh Tay-Sachs hay còn gọi là bệnh đần, thong manh là một rối loạn di truyền gây tử vong do tổn thương tế bào thần kinh trong não. Rối loạn chuyển hóa lipoid do thiếu bẩm sinh hexosaminidase dẫn đến ứ đọng nhiều gangliosid GM2 trong các tế bào hạch. Bệnh biểu hiện ở người mang gen đồng hợp tử ngay từ tháng thứ 5, thường có các triệu chứng như mất khả năng vận động, điếc, mù lòa, động kinh và mất trí nhớ.

Những căn bệnh có khả năng “cầm chân” các căn bệnh khácCộng đồng người Ashkenazi gốc Do Thái có tỉ lệ mắc bệnh Tay-Sachs cao nhưng tỉ lệ tử vong vì lao lại thấp

Những người mắc bệnh Tay-Sachs thường mang gen Tay-Sachs và chính gen này lại có tác dụng bảo vệ họ trước Mycobacterium tuberculosis, vi khuẩn gây bệnh trong chi Mycobacterium và là tác nhân nhân gây bệnh của hầu hết các ca lao nên còn gọi là “vi khuẩn lao”. Bệnh Tay-Sachs phá hủy các tế bào thần kinh trong não và tủy sống và là căn bệnh phổ biến trong nhóm người Ashkenazi gốc Do Thái. Các nhà khoa học đã tìm ra mối tương quan giữa gen Tay-Sachs và bệnh lao trong quần thể cộng đồng người này. Tuy nhiên, nhóm người mắc bệnh Tay-Sachs lại tạo ra một tiểu đơn vị enzyme hexosamindinase. Nó có tác dụng ngăn ngừa bệnh lao, nhờ việc săn lùng và tiêu diệt vi khẩn lao Mycobacteria và khiến các vi khuẩn khác trên bề mặt của tế bào trở nên ít hoạt động hơn. Bởi vậy, mặc dù tỷ lệ mắc bệnh lao tăng lên ở người Ashkenazi gốc Do Thái nhưng số ca tử vong thấp hơn so với nhóm người khác mắc bệnh lao mà không có gen gây bệnh Tay-Sachs.

3. Bệnh xơ nang và bệnh tả

Bệnh xơ nang (Cystic Fibrosis - CF) là bệnh di truyền kéo dài suốt cuộc đời khiến cơ thể tiết mồ hôi và dịch nhầy. Thông thường, dịch nhầy là chất dịch trơn, hơi dính giúp bôi trơn và bảo vệ các màng nhầy. Tuy nhiên, khi mắc bệnh xơ nang, dịch nhầy sẽ trở nên dày và dính bất thường, làm tắc nghẽn phổi và gây nhiễm trùng phổi. Dịch nhầy cũng ảnh hưởng đến tụy, khiến cho enzym tiêu hóa không thể đến được ruột non. Khi không có enzym, chất dinh dưỡng không thể hấp thụ được từ thức ăn.

Những căn bệnh có khả năng “cầm chân” các căn bệnh khácBệnh nhân xơ nang có tỉ lệ tử vong vì bệnh tả thấp do mất nước giảm một nửa

Những người mắc bệnh CF đã được chứng minh là có thể tồn tại được trước V. cholerae (còn gọi là Kommabacillus), một loài vi trùng gram âm gây bệnh tả ở người. V. cholerae và các loài khác thuộc chi Vibrio thuộc lớp gamma của ngành Proteobacteria. Có hai chủng V. cholerae chính, chủng cổ điển và chủng El Tor, cùng một số nhóm huyết thanh (serogroup) khác. Bệnh xơ nang làm cho các kênh trong hệ hô hấp bị tắc chất nhờn dày và sinh ra vi khuẩn gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa bằng cách ngăn chặn các enzym tiêu hóa thức ăn trong ruột non. Tuy nhiên, người mắc bệnh CF lại không bị ảnh hưởng của bệnh này. Nói cách khác, không bị ảnh hưởng bởi bệnh tả.

Bệnh tả là bệnh nguy hiểm chết người vì nó khiến bệnh nhân mất tới 19 lít nước mỗi ngày, cuối cùng dẫn đến mất nước, kiệt sức. Bệnh xơ nang phong bế các kênh clorua và có tác dụng giữ lại chất lỏng. Kết quả, những người mang gen xơ nang bị nhiễm bệnh tả chỉ bị mất một nửa lượng chất lỏng so với người không mang gen xơ nang. Sự bài tiết chất lỏng hạn chế này đủ để đẩy chất độc của khuẩn tả ra khỏi ruột mà không gây mất nước. Vì vậy, chỉ cần một gen xơ nang cũng có tác dụng ngăn chặn các tác động gây chết người của bệnh tả bằng cách ngăn chặn sự mất nước dẫn đến kiệt sức tử vong.

4. Bệnh Phenylketone niệu và sảy thai ở phụ nữ

Bệnh Phenylketone niệu (PKU) là chứng rối loạn về chuyển hóa Phenylalanyl (Phe) thành Tyrosine (Tyr) do thiếu hụt enzym phenylalanine hydroxylase ở nhóm phụ nữ bầu bí. Tyrosine là tiền chất quan trọng để sản xuất serotonin, các catecholoamine (chất dẫn truyền thần kinh), hoóc-môn tuyến giáp và melanin. Bệnh PKU không điều trị có thể dẫn đến khuyết tật về trí tuệ, động kinh, các vấn đề về hành vi và rối loạn tâm thần. Trẻ sinh ra từ những bà mẹ bị PKU không điều trị có thể bị bệnh tim, đầu nhỏ và nhẹ cân. Thủ phạm gây bệnh Phenylketonuria là do các đột biến trong gen PAH dẫn đến nồng độ enzym phenylalanine hydroxylase thấp. Có hai loại chính, PKU cổ điển và biến thể PKU, tùy thuộc vào chức năng enzym. Những người có một bản sao của một gen đột biến thường không có triệu chứng.

Theo một nghiên cứu trực tuyến, các bác sĩ quan sát thấy những phụ nữ mang mầm bệnh PKU có tỉ lệ sảy thai thấp hơn nhiều so với mức trung bình. Mặc dù PKU có thể gây ra các vấn đề sức khỏe đáng kể, nhưng những phụ nữ mang đột trong gen PAH lại có lợi thế trong việc tự bảo vệ bản thân chống phá thai, mất thai do nhiễm nấm. Người ta gọi hiện tượng này là mất thai do nhiễm nấm (mycotic abortions). Đây là căn bệnh khá phổ biến ở Scotland và Ireland (Anh), do không khí trong tự nhiên rất thích hợp cho nấm phát triển nên nguy cơ mất thai do nhiễm nấm cao hơn bất kỳ khu vực nào trên thế giới. Phenylalanine, gây ra các vấn đề sức khỏe ở bệnh nhân PKU, chiến đấu chống lại độc tố chính trong hầu hết các loại nấm gây phá thai tự phát. Do người mang bệnh PKU có lượng lớn phenylalanine, nên họ có thể sống khỏe, không phải lo nhiễm nấm và có thể bảo vệ đứa trẻ chưa ra đời tốt hơn so với nhóm phụ nữ không mang bệnh PKU.

5. Bệnh Niemann-Pick và Ebola

Niemann-Pick là một căn bệnh mà cholesterol tích lũy bất thường trong lysosome. Đây là căn bệnh di truyền liên quan đến chuyển hóa lipid làm tích tụ một lượng lớn chất béo trong gan, lách, não và tủy xương. Bệnh được chia làm 4 dạng là A, B, C, D dựa trên các nguyên nhân di truyền và triệu chứng. Cholesterol tích lũy do thiếu một loại protein đặc trưng gọi là NPC1, nó làm nhiệm vụ vận chuyển cholesterol ra khỏi lysosome. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy protein NPC1 có liên quan đến quá trình lây nhiễm Ebola. Vi-rút Ebola đã được ghi nhận là không lây nhiễm các nguyên bào sợi của bệnh nhân mắc bệnh Niemann-Pick, thậm chí nó còn làm cho các nguyên bào sợi của bệnh nhân Niemann-Pick phong phú hơn.

Những căn bệnh có khả năng “cầm chân” các căn bệnh khácNgười bệnh Niemann-Pick ít bị nhiễm virút Ebola

Về cơ bản, virút Ebola không thể lây nhiễm đối với những người mắc bệnh Niemann-Pick vì không có sự hiện diện của NPC1, đây là điều mới mẻ và bí ẩn khoa học chưa có hiểu hết.

DS. TRANG NHUNG

(Theo Listverse/MXC- 4/2018)